Máy Đo Chuyên Dụng

HOTLINE:

0904 810 817, hoặc 0979 244 335

Máy đo tốc độ, lưu lượng, nhiệt độ gió trong đường ống HT-9829

Mã Sản Phẩm:
HT-9829
Trong Kho:
Còn hàng
Bảo Hành:
12 tháng
Giá Bán:
3.500.000₫
THB nhà nhập khẩu & phân phối hàng đầu Việt Nam các loại máy đo tốc độ gió, đo vận tốc gió, phong kế điện tử

Hỗ Trợ Khách Hàng

Hà Nội: Số 116, Ngõ 203 Hoàng Quốc Việt, quận Cầu Giấy (ôtô đỗ được)

Tel: (024) 3793 8604    |    Hotline: 0904 810 817

TP Hồ Chí Minh: Số nhà LL1Bis đường Ba Vì, quận 10 (trong khu Cư Xá Bắc Hải)

Tel: (028) 6686 0682    |    Hotline: 0979 244 335

Máy đo tốc độ gió bằng dây nhiệt là phương pháp phổ biến nhất được sử dụng để đo vận tốc dòng chảy tức thời. Kỹ thuật này phụ thuộc vào sự mất nhiệt đối lưu với các dòng chảy xung quanh từ một phần tử cảm biến nhiệt bằng điện

Máy đo tốc độ gió bằng dây nóng này sử dụng một dây chất liệu rất tốt làm nóng bằng điện đến một số nhiệt độ cao hơn môi trường xung quanh. Không khí chảy qua các dây có tác dụng làm mát trên dây và điện trở của hầu hết các kim loại phụ thuộc vào nhiệt độ của kim loại. Từ đó có thể tính ra chính xác được tốc độ dòng chảy không khí hay tốc độ gió.

Máy đo tốc độ gió HT-9829 này có ưu điểm hơn so với máy đo vận tốc gió thông thường vì đầu dò nhỏ gọn nên có thể sử dụng được ở những khu vực có không gian nhỏ hẹp, màn hình LCD lớn hiển thị chính xác, dễ nhìn các giá trị đo được, báo hiệu pin yếu và tự động tắt nguồn, hiển thị dòng lưu thông không khí (CFM / CMM), hay tốc độ không khí cộng với đo nhiệt độ không khí đồng thời.

Tính năng

  • Đo tốc độ gió, lưu lượng gió và nhiệt độ. Có thể đo được tốc độ gió rất thấp.
  • Đầu dò mảnh, lý tưởng cho các lưới thông gió và ống phân phối không khí.
  • Sự kết hợp của điện trở nhiệt tiêu chuẩn và dây nóng, cho các phép đo nhanh và chính xác.
  • Ghi các kết quả đo max/min với chức năng giữ giá trị và gọi lại giá trị (hold)
  • Mạch vi xử lý đảm bảo độ chính xác là cao nhất có thể cho các tính năng và chức năng riêng biệt.
  • Màn hình LCD kích thước lớn với đèn nền có thể hiển thị rõ ràng đồng thời cả tốc độ và nhiệt độ không khí.
  • Nhiều chức năng cho phép đo luồn không khí: m/s, km/h, ft/min, MPH, Knot và CFM/CMM
  • Cảm biến điện trở nhiệt cho phép đo nhiệt độ, thời gian đáp ứng nhanh. Đơn vị đo 0C/0F.

Thông số kỹ thuật

Màn hìn hiển thị

LCD 43mm x 57mm

Đo tốc độ không khí

Dải đo

Độ phân dải

Độ chính xác

m/s

0.1 ~ 25.0

0.01

(5% + 1d) hoặc (1% + 1d)

Km/h

0.3 ~ 90.0

0.1

Ft/phút

20 ~ 4925

1

MPH

0.2 ~ 55.8

0.1

Knots

0.2 ~ 48.5

0.1

Đo nhiệt độ

Dải đo

00C – 500C

Độ phân dải

0.10C/ 0.10F

Độ chính xác

±10C/ 1.80F

Đô lưu lượng

Dải đo

Độ phân dải

CMM

0 – 99999 ft3/phút

0.001 ~ 100

CFM

0 – 99999 ft3/phút

0.001 ~ 100

Tốc độ lấy mẫu

0.8s

Nhiệt độ hoạt động

0 ~ 500C

Độ ẩm hoạt động

< 80% Rh

Nguồn cấp

1 x 9VDC

Dòng điện

60 ~ 90 mA

Kích thước

200 x 85 x 38 mm; 240g

Xuất xứ: Taiwan Total Meter 

Máy Đo Tốc Độ Gió là gì ? và các loại Máy Đo Vận Tốc Gió - Phần 1

Máy đo vận tốc gió hoặc phong kế là một thiết bị được sử dụng để đo tốc độ gió, và là một công cụ trạm thời tiết. Bài viết này sẽ cho các bạn biết được lịch sử phát minh ra máy đo gió và các loại máy đo tốc độ gió


Máy đo vận tốc gió - Anemometer

Máy đo gió (anemometer) hoặc phong kế (windmeter) là một thiết bị được sử dụng để đo tốc độ gió, và là một công cụ trạm thời tiết phổ biến. Thuật ngữ anemometer bắt nguồn từ tiếng Hy Lạp (anemos có nghĩa là gió) và được sử dụng để mô tả các dụng cụ đo tốc độ không khí sử dụng trong khí tượng học và khí động lực học. Mô tả đầu tiên của máy đo gió được biết đến vào khoảng năm 1450 bởi Leon Battista Alberti.

Các máy đo gió có thể được chia thành hai nhóm: máy đo tốc độ của gió và máy đo áp suất của gió; tuy nhiên do có một liên hệ chặt chẽ giữa áp suất và tốc độ, nên một máy đo gió được thiết kế cung cấp thông tin về cả hai.

I. Lịch sử

Máy đo gió đã có rất ít thay đổi kể từ khi nó được phát triển trong thế kỷ 15. Leon Battista Alberti được cho là người phát minh ra máy đo cơ đầu tiên vào khoảng năm 1450. Trong nhiều thế kỷ sau đó, rất nhiều người khác, trong đó có Robert Hooke và người Maya, đã phát triển các phiên bản riêng của họ, do nhầm lẫn nên một số người được ghi nhận là nhà phát minh. Năm 1846, John Thomas Romney Robinson cải tiến thiết kế bằng cách sử dụng bốn cốc hình bán cầu và bánh quay cơ khí.

Sau đó, vào năm 1926, John Patterson đã phát triển một máy đo gió ba cốc, và được cải tiến bởi  Brevoort và Joiner vào năm 1935. Năm 1991, Derek Weston phát triển thêm khả năng phát hiện hướng gió. Gần đây nhất, vào năm 1994, Tiến sĩ Andrews Pflitsch đã phát triển các máy đo gió siêu âm.

II. Các loại máy đo gió

1.Máy đo gió dạng cốc

Một loại đơn giản của máy đo gió được phát minh vào năm 1845 bởi Tiến sĩ John Thomas Romney Robinson, của Đài thiên văn Armagh. Nó bao gồm bốn cốc hình bán cầu, mỗi cái được gắn trên một đầu của bốn tay ngang, mà lần lượt được gắn ở các góc bằng nhau trên một trục dọc. Luồng không khí qua các cốc trong bất kỳ hướng nằm ngang nào đều quay trục theo một chiều và tỷ lệ thuận với tốc độ gió. Vì vậy, đếm các lượt quay của trục trong một khoảng thời gian thiết lập sẽ thu được tốc độ gió trung bình cho một dải rộng các tốc độ. Trên một máy đo với bốn cốc hứng gió, rất dễ dàng để thấy rằng do các cốc được bố trí một cách đối xứng ở đầu của các tay ngang, gió luôn luôn hướng vào lòng chảo của một cốc và thổi trên mặt sau của cốc trên đầu đối diện của thanh chéo (chữ thập).

Khi Robinson đầu tiên thiết kế máy đo gió của mình, ông khẳng định rằng các cốc di chuyển một phần ba tốc độ của gió, không bị ảnh hưởng bởi kích thước cốc hoặc chiều dài tay ngang. Điều này dường như đã được xác nhận bởi một số thí nghiệm riêng lẻ đầu tiên, nhưng đó là không chính xác. Thay vào đó, tỷ lệ tốc độ của gió và tốc độ của các cốc, hệ số máy đo gió, phụ thuộc vào kích thước của các cốc và tay ngang, và có thể có một giá trị giữa hai và trên ba một chút. Mỗi thí nghiệm trước đây liên quan đến một máy đo gió phải được lặp đi lặp lại.

Máy đo gió ba cốc được phát triển bởi John Patterson Canada vào năm 1926 và các cải tiến cốc tiếp sau đó, được thực hiện bởi Brevoort & Joiner của Hoa Kỳ vào năm 1935 đưa ra một thiết kế cốc dạng bánh lái (cupwheel) đó là tuyến tính và có một lỗi nhỏ hơn 3% trên tốc độ 60 mph (97 km/h). Patterson phát hiện ra rằng mỗi cốc tạo ra mô-men xoắn cực đại khi nó đặt chếch 450 so với hướng gió. Máy đo gió ba cốc cũng có một mô-men xoắn ổn định hơn và phản ứng với gió mạnh nhanh hơn so với máy đo gió loại bốn cốc.

Máy đo gió ba cốc đã được cải tiến thêm bởi Derek Weston người Úc vào năm 1991 để đo cả hướng gió và tốc độ gió. Weston đã thêm mỗi thẻ vào một cốc làm cho tốc độ cupwheel tăng và giảm khi thẻ di chuyển luân phiên hoặc ngược với hướng gió. Hướng gió được tính toán từ những chu kỳ thay đổi trong tốc độ của cupwheel, trong khi tốc độ gió được như bình thường được xác định từ tốc độ trung bình của cupwheel.

Các máy đo gió ba cốc hiện đang được sử dụng như là tiêu chuẩn công nghiệp cho các nghiên cứu đánh giá tài nguyên gió.

Còn nữa

Bản quyền: www.maydochuyendung.com

Tham khảo thêm: http://maydochuyendung.com/may-do-toc-do-gio 


Các Tin Khác

  • Máy Đo Tốc Độ Gió là gì ? và Máy Đo Gió Dạng Chong Chóng - Phần 2
  • Máy Đo Tốc Độ Gió Là Gì ? Và Máy Đo Gió Dạng Dây Nóng - Phần 3
  • Máy Đo Tốc Độ Gió cộng hưởng âm thanh - Phần 6
  • Máy Đo Tốc Độ Gió dạng áp suất - Phần 7
  • Máy đo tốc độ gió chuẩn chính xác
  • Ý Kiến Khách Hàng

    Có Thể Bạn Quan Tâm